Loading

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Các gã khổng lồ đang bé đi

Kinh tế năm 2012 đang có xu hướng xấu đi thấy rõ, khi tại Việt Nam số doanh nghiệp được thành lập còn thấp hơn con số doanh nghiệp phá sản, gần 1/10 doanh nghiệp Việt Nam đã biến mất trước thềm 2012.Còn trên thế giới, các tập đoàn lớn chính là nơi bị tác động mạnh nhất về suy thoái kinh tế, hiếm khi các doanh nghiệp Mỹ bị mất tới 1/3 doanh thu trong một thời gian ngắn.Nhưng 8 doanh nghiệp “khổng lồ” của Mỹ dưới đây lại khiến người ta ngỡ ngàng khi ngày càng “bé” dần về doanh thu.
Trang 24/7 Wall Street điểm qua 8 công ty lớn của Mỹ có doanh thu suy giảm nhiều nhất trong 5 năm trở lại đây, đồng thời phân tích lý do phía sau sự đi xuống này.

1. General Motors (GM)

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 59,5 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 195 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 135,5 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -30,5%
Lĩnh vực hoạt động: Ôtô

Vào thập niên 1960, GM chiếm thị phần 50% trên thị trường ôtô của Mỹ. Thị phần này co cụm dần khi giá xăng dầu tăng và GM chậm chạp trong việc chuyển sang sử dụng động cơ 4 kỳ. Xe nhập từ Nhật Bản khiến thị phần của GM càng giảm do xe Nhật có chất lượng tốt và khả năng tiết kiệm nhiên liệu cao. Đến đầu thập kỷ trước, GM cùng lúc phải “chiến đầu” trên hai mặt trận, một là với những đòi hỏi của Liên đoàn công nhân ôtô Mỹ (UAW) và sự cạnh tranh của các đối thủ Á, Âu.

Cuộc suy thoái toàn cầu bắt đầu vào tháng 12/2007 là một cú sốc quá lớn đối với GM. Doanh số thị trường xe ôtô của Mỹ giảm từ 17 triệu xe vào năm 2005 xuống còn 10,4 triệu xe vào năm 2009. GM tuyên bố phá sản với sự bảo trợ của Chính phủ Mỹ vào ngày 1/6/2009.

Có hai lý do khiến doanh thu của GM giảm mạnh trong thời gian qua. Thứ nhất, doanh số của hãng đã giảm nhiều ở hai thị trường Mỹ và châu Âu. Lý do thứ hai nằm ở việc GM quyết định đóng cửa những thương hiệu xe không sinh lời. Saturn bị giải tán vào mùa hè năm 2009, Pontiac bị “khai tử” hai tháng sau đó, rồi đến Hummer trở thành dĩ vãng vào đầu năm 2010. Việc đóng cửa các thương hiệu này mang tới cho GM tỷ suất lợi nhuận cao hơn, nhưng khiến tổng doanh thu của hãng suy giảm. Gần đây, doanh thu của GM đã tăng trở lại. Trong quý 3/2011, doanh thu của GM tăng lên 36,7 tỷ USD từ mức 34,1 tỷ USD cùng kỳ năm 2010.

2. Ford

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 47,9 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 176,9 tỷ USD (2005)
Doanh thu năm 2010: 129 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -27,1%
Lĩnh vực hoạt động: Ôtô
Câu chuyện của Ford không khác GM là mấy, ngoại trừ việc Ford chưa phá sản lần nào. CEO Alan Mulally đầu quân cho Ford từ tháng 9/2006 vay được 23 tỷ USD bằng cách thế chấp gần hết tài sản của hãng. Nhờ số vốn này mà Ford vượt qua được suy thoái toàn cầu. Vào năm 2008, trước khi Mulally thành CEO của Ford, hãng này đã phải bán hai thương hiệu Jaguar và Range Rover cho hãng Tata Motors của Ấn Độ với giá 2,3 tỷ USD.

Ford đã lên kế hoạch trước cho sự suy giảm doanh số. Vào năm 2005, CEO của hãng khi đó là Bill Ford lên kế hoạch mang tên “Chặng đường phía trước” (The Way Forward), trong đó thực hiện cắt giảm số công nhân, giảm sản lượng xe SUV có khả năng tiết kiệm nhiên liệu thấp và chuyển sang các loại xe sử dụng nhiên liệu tổ hợp. Tuy nhiên, Bill Ford đã không lường được suy thoái kinh tế Mỹ và không ngăn chặn được sự gia tăng của chi phí nhân công. Ford đã gần như suy sụp trong thời gian suy thoái, Bill Ford mất ghế CEO, nhưng hiện vẫn là Chủ tịch điều hành của hãng xe này.

 3. AIG

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 31,3 tỷ USD
Doanh thu năm 2005: 108,9 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 77,6 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -28,7%
Lĩnh vực hoạt động: Bảo hiểm
AIG lâm vào thảm cảnh vì sự sụp đổ của thị trường chứng khoán nợ dưới chuẩn ở cấp độ nghiêm trọng hơn bất kỳ một công ty tài chính nào khác. Chính phủ Mỹ đã phải chi 182 tỷ USD để cứu hãng bảo hiểm khổng lồ này thoát cảnh phá sản, một phần vì AIG có quan hệ tài chính mật thiết với nhiều ngân hàng lớn gồm Goldman Sachs và Bank of America. Vụ giải cứu này nhằm mục đích tránh sự đổ vỡ dây chuyền trong ngành tài chính Mỹ.

Vào tháng 9/2008, Chính phủ Mỹ giành quyền kiểm soát cổ phần chính của AIG, mở đầu cho Quốc hội nước này thành lập quỹ giải cứu tài chính (TARP) trị giá 700 tỷ USD để hỗ trợ các “đại gia” Phố Wall khác đang trong tình trạng “mấp mé miệng vực”.

Để có tiền trả nợ Chính phủ, AIG đã thực hiện phát hành cổ phiếu và bán lại một số bộ phận lớn, bao gồm các công ty con American Life Insurance Company cho MetLife vào đầu năm 2010 với giá 15,5 tỷ USD; AIG Stard và AIG Edison cho Prudential Financial với giá 4,2 tỷ USD vào cuối năm 2010; AIG Credit và 21st Century Insurance cho Farmers Insurance Group vào giữa năm 2009. Vì các vụ chuyển nhượng này, doanh thu của AIG đã giảm 28,7% trong 5 năm.

4. Motorola Solutions

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 27,5 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 35,3 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 7,8 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -77,9%
Lĩnh vực hoạt động: Viễn thông

Motorola là một trong những công ty điện tử tiêu dùng thành công nhất vào năm 2005-2006. Trong thời gian từ 2004-2007, hãng này bán được 130 triệu chiếc điện thoại RAZR. Đến năm 2010, Motorola tách làm đôi.

Trong suốt nhiều năm, Motorola bị xem là một công ty “lạ lùng”. Hãng này vừa có lĩnh vực chủ chốt là điện thoại di động, đồng thời còn có mảng sản xuất thiết bị giải mã truyền hình và một bộ phận xây dựng cơ sở hạ tầng cho các công ty viễn thông. Những lĩnh vực hoạt động này trở nên cồng kềnh khi doanh số điện thoại di động giảm chóng mặt do Motorola không thể tung ra một sản phẩm ấn tượng nào sau RAZR. Các mảng thiết bị giải mã và cơ sở hạ tầng viễn thông chẳng có điểm tương đồng nào với bộ phận điện thoại di động.
Bởi vậy, Hội đồng quản trị và ban điều hành Motorola quyết định tách công ty làm đôi và bán lại bộ phận nhỏ hơn. Nokia Siemens Networkds đã mua lại bộ phận thiết bị mạng không dây của Motorola vào tháng 6/2010 với giá 1,2 tỷ USD. Sau đó, Motorola tiếp tục tách làm Motorola Solutions với mảng cơ sở hạ tầng, và Motorola Mobility với mảng điện thoại di động. Gần đây, Motorola Mobility đã chấp nhận “bán mình” cho Google với giá 12,5 tỷ USD. Thương vụ này được kỳ vọng sẽ hoàn tất vào đầu năm nay.

5. Altria

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 17,9 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 34,8 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 16,9 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -51,5%
Lĩnh vực hoạt động: Thuốc lá

Trước đây, Altria sản xuất các loại thuốc lá mang thương hiệu Philip Morris. Hãng này cũng từng nắm giữ một cổ phần lớn trong hãng thực phẩm Kraft. Sau đó, Altria nhận thấy không có nhiều lợi ích về quy mô trong việc sở hữu cùng lúc một công ty thực phẩm và công ty thuốc lá. Kết quả, Kraft được Altria chuyển giao lại cho cổ đông của công ty thực phẩm này vào năm 2007.

Tuy nhiên, thay đổi quan trọng nhất đối với Altria là khi công ty này tách mảng hoạt động quốc tế và thành lập một công ty đại chúng có tên Philip Morris International. Altria giữ lại mảng kinh doanh thuốc lá tại Mỹ. Khi kế hoạch chia tách trên được công bố vào giữa năm 2007, doanh thu của Philip Morris International là 48,26 tỷ USD, cao hơn gấp đôi doanh thu của bộ phận tại thị trường Mỹ là 18,47 tỷ USD. Lý do phía sau quyết định chia tách này là mảng hoạt động tại Mỹ bị giám sát chặt và chỉ đạt mức tăng trưởng khiêm tốn, trong khi mảng hoạt động ở thị trường nước ngoài có nhiều tiềm năng để tiếp tục mở rộng hơn.

6. Time Warner

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 14,9 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 41,8 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 26,9 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -35,6%
Lĩnh vực hoạt động: Truyền thông

Time Warner là một công ty khác được chia tách dựa trên một chiến lược do Hội đồng quản trị và ban điều hành vạch ra. “Đế chế” truyền thông này trước đây sở hữu nhiều hệ thống dây cáp, nhà xuất bản tạp chí lớn nhất thế giới Time Inc., hãng phim Warner Bros, nhiều kênh truyền hình cáp gồm HBO và CNN, cùng mạng AOL. Về sau, hãng này quyết định đặt trọng tâm vào mảng nội dung, theo đó tách bỏ Time Warner Cable vào đầu năm 2009.

Tiếp đó, hãng “cắt đuôi” thêm bộ phận cổng thông tin trực tuyến để tập trung sâu hơn vào mảng tạp chí, làm phim và nội dung truyền hình cáp. AOL đã tách ra trở thành một công ty đại chúng vào cuối năm 2009. Với chiến lược thu hẹp doạt động này, doanh thu của Time Warner đã giảm trên 1/3 chỉ trong vòng có 5 năm.

7. Citigroup

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 14,3 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 75,7 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 61,4 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -18,9%
Lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng

Tương tự như AIG, Citigroup đã cơ cấu lại hoạt động trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Từng được biết đến như một siêu thị tài chính của thế giới, Citigroup được người sáng lập Sandy Weill tạo nên thông qua một loạt các vụ thâu tóm, bao gồm các công ty tài chính The Travelers, Smith Barney và Salomon Brothers. Tuy nhiên, danh mục chứng khoán nợ dưới chuẩn đã khiến Citigroup điêu đứng khi thị trường bất động sản Mỹ xuống dốc.

Vào năm 2006, khi Weill về hưu, không ai có thể tưởng tượng được việc Citigroup phải cần tới sự cứu trợ. Tuy nhiên, trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Chính phủ Mỹ đã phải rót cho Citigroup hai gói giải cứu, một gói 20 tỷ USD và 25 tỷ USD. Sau đó, Bộ Tài chính Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Mỹ (FDIC) đã nhất trí bảo lãnh cho 306 tỷ USD tài sản xấu của Citigroup. Sau khi nhậm chức, CEO Vikram Pandit bắt tay vào việc cắt bỏ những bộ phận làm ăn “bết bát” nhất. Những bộ phận có thể bán của ngân hàng này cũng được bán lại để lấy tiền bù lỗ và trả nợ Chính phủ. Đến cuối năm 2008, Pandit cho biết, ông sẽ cắt giảm 52.000 việc làm. Citigroup còn trở nên nhỏ thêm khi bán đi những bộ phận lớn như mảng cho sinh viên vay ăn học hay phần nhiều bộ phận tại Nhật.

8. Home Depot

Mức suy giảm doanh thu trong 5 năm: 6,8 tỷ USD
Doanh thu năm 2006: 73,0 tỷ USD
Doanh thu năm 2010: 66,2 tỷ USD
Tỷ lệ thay đổi về doanh thu: -9,3%
Lĩnh vực hoạt động: Bán lẻ thiết bị gia dụng

Trong 5 năm qua, Home Depot gặp một loạt thách thức vì hai yếu tố. Thứ nhất là sự sụp đổ của thị trường bất động sản. Doanh số nhà sụt giảm và tỷ lệ thất nghiệp tăng khiến hoạt động xây dựng đi xuống và người dân ngần ngại chi tiền để nâng cấp nhà. Đến nay, thị trường bất động sản của Mỹ vẫn chưa thể hiện rõ sự hồi phục. Trong 3 quý đầu năm 2011, doanh thu của Home Depot chỉ tăng 2,9% lên 54,4 tỷ USD.

Một lý do khác khiến Home Depot “nhỏ” đi so với cách đây 5 năm là do hãng này bán lại mảng cung cấp vật liệu xây dựng vào năm 2007 để tập trung vào bán lẻ. Trước khi được bán lại, bộ phận này đã được Home Depot xây dựng thông qua gần 40 vụ mua lại trị giá hơn 7 tỷ USD.
Theo Dân Trí

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Hot Sonakshi Sinha, Car Price in India